Sự khác nhau giữa CY - CFS?


I. CY (Container Yard) và CFS (Container Freight Station)
Hai thuật ngữ cơ bản mà dân XNK và FWD (Fowarder) cần hiểu & phân biệt rõ, đó là CY và CFS. Bãi Cont (CY – Container Yard) và bãi khai thác hàng lẻ (CFS – Container Freight Station).

CY và CFS, có lẽ đây là hai trong những thuật ngữ mà đang được cộng đồng Logistics được tra cứu nhiều nhất hiện nay, Logistics, Forwarding, Shipping tiếp xúc hàng ngày trong công việc nhưng lại chưa chắc đã hiểu hết về nó. Ngành giao nhận vận tải biển có rất nhiều thuật ngữ và ký hiệu viết tắt khi mới nghe hoặc nhìn có vẻ rất giống nhau nhưng thực tế bản chất lại rất khác nhau, để hiểu hết được những thuật ngữ này yêu cầu phải có một nền tảng kiến thức nhất định và hiểu rõ được công dụng của từng thuật ngữ.

Vậy:
  • CY hay Container Yard: Bãi Container là khu vực trong cảng biển hoặc cảng cạn để chứa các Container FCL được dỡ từ tàu chở hàng xuống hoặc để các Container trước khi đưa lên tàu.
Với lô hàng CY/CY nghĩa là (Container Yard - Container Yard): Mọi người có thể hiểu rằng CY/CY là một hình thức giao hàng, hiểu đơn giản nó là giao hàng từ Bãi container (người gửi hàng) - Bãi container (người nhận hàng). Người gửi hàng/ chủ hàng (Shipper) sẽ kéo Container hàng về hạ tại bãi được Hãng tàu chỉ định (trên Booking confirmation). Hãng tàu có trách nhiệm với Container hàng này từ khi nó được hạ tại bãi thuộc cảng xếp hàng (POL), sẵn sàng để bốc lên tàu cho đến khi được dỡ xuống bãi Container chỉ định tại cảng dỡ hàng (POD). Người nhận hàng/ chủ hàng (Consignee) sẽ làm thủ tục nhập khẩu, lấy và kéo Container hàng khỏi bãi về kho hàng của họ.

Dựa trên hợp đồng vận chuyển giao nhận với khách và cảng vụ, một số hãng tàu có thể đưa tên của cảng xếp hàng và/ hoặc cảng dỡ hàng trên vận đơn đường biển trước ký hiệu CY, ví dụ, AMSTERDAM CY để làm rõ ràng hơn trách nhiệm & nghĩa vụ của họ bắt đầu & kết thúc tại một bãi Container đích danh & cụ thể.

Bãi Container nhìn sẽ giống như khu vực dưới đây:



  • CFS hay Container Freight Station: Bãi khai thác hàng lẻ (Hay còn gọi là kho CFS) – là hệ thống kho bãi nơi các lô hàng LCL (Hàng lẻ - Hàng không đủ 1 container) của các chủ hàng (DN Xuất khẩu hoặc nhập khẩu) khác nhau được gom lại trước khi được xuất khẩu hoặc chia lẻ sau khi nhập khẩu.

Tùy theo lô hàng lẻ sử dụng dịch vụ gom hàng của Hãng tàu hay Người gom hàng lẻ, nghiệp vụ sẽ khác nhau, cụ thể:

Với lô hàng lẻ mà người gửi hàng trực tiếp liên hệ với Hãng tàu thì bên Hãng sẽ phát hành một Master Bill có kí hiệu CY/CY để thể hiện rằng trách nhiệm của Hãng Tàu là từ bãi Container người gửi - bãi Container người nhận hàng.

Còn đối với trường hợp lô hàng lẻ được giao cho người gom hàng thì bên người gom hàng sẽ phát hành một House bill cho người gửi hàng cũng tương tự với điều kiện CY/CY và rồi Hãng tàu cũng gửi cho người gom hàng một vận đơn cũng với điều kiện là CY/CY. Thực chất việc này người gửi hàng không muốn làm các thủ tục hay các vấn đề phát sinh nên họ sẽ chuyển cho người gom hàng làm để tiết kiệm thời gian và thường người gửi hàng là những doanh nghiệp tầm trung và nhỏ.

Dưới đây là hình ảnh Bãi khai thác hàng lẻ:





SO SÁNH GIỮA HOUSE BILL VÀ MASTER BILL?




Vận đơn đường biển tên tiếng anh là Bill of lading, hay còn gọi ngắn gọn là Bill, B/L là một loại chứng từ trong Logistics chuyên chở bằng đường biển, do hãng tàu chuyên chở cho shipper khi đã nhận được hàng, hoặc do người đại diện (carrier) phát hành sau khi đã xếp hàng lên tàu.

Hiện nay có 2 loại Bill đó là Master Bill (MBL) và House Bill (HBL) được phát hành cấp cho Shiper (Người gửi hàng), điều này dễ gây nhầm lẫn, khó phân biệt cho bạn đọc khi các bạn chưa nắm rõ được thế nào là MBL và HBL. Hôm nay mình sẽ tổng hợp lại cách phân biệt 2 loại BILL này để mọi người hiểu rõ hơn về tác dụng của 2 loại Bill:

Master Bill : là loại bill do hãng tàu ( người sở hữu tàu ) phát hành cho Người gửi hàng (Shiper) có nghĩa là shipper đứng tên trực tiếp trên bill và có thể hiện logo của hãng tàu. Có 2 trường hợp:

+ Khách gửi hàng có thể trực tiếp liên hệ với hãng tàu để gửi hàng, lúc này hãng tàu sẽ phát hành một loại bill gọi là Master Bill (MBL). Lúc này Shipper đứng tên chủ hàng, consignee là tên người mua hàng thực thụ và trên Bill có logo của hãng tàu

+ Khách gửi hàng cho Forwarder, nhưng khách muốn nhận MBL chứ không muốn nhận HBL, lúc này Forwarder chỉ đóng vai trò môi giới, nhận book tàu giùm khách. Lúc này Shipper là tên công ty Forwarder, consignee là tên đại lý của công ty Forwarder tại nước sở tại

House Bill : Là loại bill do công ty Forwarder phát hành cho shipper, trên bill có thể hiện logo của công ty Forwarder chứ không có logo của hãng tàu. Trên HBL shipper là công ty forwarder và consignee là người mua hàng.

Sau khi shipper nhận được MBL hoặc HBL gốc sẽ báo cho consignee để nhận hàng. Đó là trên lý thuyết, còn thường thì shipper sẽ đổi bill gốc lấy surrender bill để telex release qua cho consignee cho tiện.

Một số điểm khác nhau giữa MBL và HBL
HBL là do Forwarder phát hành nên dễ chỉnh sửa hơn so với MBL có thể tùy ý chỉnh sửa theo nhu cầu của shipper.
Tuy nhiên HBL lại rủi ro hơn MBL nhiều, vì khi có rủi ro nếu có MBL gốc thì shipper có thể kiện hãng tàu được, còn HBL gốc không có hiệu lực đỗi với hãng tàu, chỉ có hiệu lực giữa shipper và forwarder mà thôi vì vậy khi xảy ra rủi ro người gửi hàng không thể đem house bill đến hãng tàu để đòi quyền lợi của mình được
MBL có 1 dấu và chữ kí, HBL có thể có 2 (1 của người gom hàng và 1 có thể của người chuyên chở xác nhận việc đã xếp hàng lên tàu)
MBL ghi cảng đi đến, HBL ghi nơi giao nhận.
Trên mặt MBL ghi tên, logo hãng tàu còn HBL ghi tên, logo người giao nhận.

Thông qua tài liệu này sẽ giúp người đọc có cái nhìn  rõ hơn về MBL và HBL và không bị nhầm lẫn giữa 2 loại bill này.

FOWARDER LÀ GÌ??


Freight forwarder là gì?
Rất nhiều câu hỏi được đặt ra, chẳng hạn như "freight forwarder là gì ?" 

Với những người không có chuyên môn cũng không làm trong lĩnh vực này thì việc giải thích cũng rất trừu tường tôi chỉ nói đơn giản đó là nghề giao nhận vận tải hay giao nhận kho vận, đại loại là thu xếp dịch vụ vận tải quốc tế cho chủ hàng xuất nhập khẩu.




  • Freight Forwarder, hay còn gọi tắt là Forwarder… là thuật ngữ chỉ người (hoặc công ty) làm nghề giao nhận vận tải (forwarding) hay đc hiểu theo nghĩa là công ty trung gian giúp các công ty xuất nhập khẩu khác về khâu vận chuyển hàng hóa và giải quyết các thủ tục hải quan


Về cơ bản, đây là bên trung gian, nhận vận chuyển hàng của chủ hàng, hoặc gom nhiều lô hàng nhỏ (consolidation) thành những lô hàng lớn hơn, sau đó lại thuê người vận tải (hãng tàu, hãng hàng không) vận chuyển từ điểm xuất phát tới địa điểm đích.

Lấy ví dụ: 

Một công ty ở Hà Nội muốn xuất khẩu 1 container 20' hàng thiết bị sang Sohar, Oman. Công ty tôi sẽ liên hệ với hãng tàu có giá hay dịch vụ phù hợp với công ty đó rồi thực hiện hợp đồng giao nhận và sẽ vận chuyển hàng hóa đến đích theo đúng hạn và địa điểm mà họ muốn xuất hàng đi.

Ngoài các tuyến quốc tế, cũng có thể dịch vụ forwarding chỉ diễn ra trên tuyến nội địa. Hàng hóa được đóng trong container rồi vận chuyển nội địa từ phía Bắc qua cảng Hải Phòng, đưa vào phía Nam qua cảng Sài Gòn, hoặc theo chiều ngược lại.

Thực tế, các forwarder chủ yếu làm hàng đóng trong container, mặc dù những loại hàng không đóng container vẫn có thể thực hiện được nhưng ít thấy hơn.

Tại sao cần forwarder?

Vậy thực sự các công ty giao nhận vận tải đóng góp giá trị gì, vai trò là gì, hay đơn giản, tại sao lại cần forwarder ? Có thể thấy được một số lý do chính sau:


  • Khách hàng nhỏ không dễ tiếp cận và mặc cả trực tiếp với hãng vận tải, và họ cần bên trung gian là forwarder để đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa.
  • Sử dụng forwarder sẽ giúp giảm chi phí, vì họ sẽ tìm tuyến đường vận chuyển tốt nhất, phương thức và hãng vận tải phù hợp nhất cho nhu cầu của bạn. Các forwarder cũng thu xếp nhiều lô hàng nhỏ để đóng ghép (consolidate) và vận chuyển tới địa điểm đích, nhờ vậy mà tiết giảm chi phí cho từng chủ hàng riêng lẻ.
  • Giúp họ cắt bớt thời gian cho việc xử lý đưa hàng, liên hệ với hãng và đặc biệt không lo lắng về vấn đề hải quan...


Những điều cần biết về Incoterms 2010



INCOTERMS là những điều khoản thiết yếu trong hoạt động thương mại quốc tế, nó qui định chi tiết trách nhiệm của người bán, người mua và thời điểm chuyển giao rủi ro giữa người mua và người bán
Phần này giải thích một số đổi trong INCOTERMS 2010 từ INCOTERM 2000
Phòng thương mại quốc tế International Chamber of Commerce đã công bố nội dung incoterm 2010 bắt đầu được áp dụng từ ngày 01 tháng 01 năm 2011.
Incoterms 2010 chỉ bao gồm 11 điều khoản, giảm 2 điều khoản (DDU & DAF) so với incoterm 2000
Incoterms (International commercial terms – những điều kiện thương mại quốc tế) được ICC (International Chamber of Commerce) phát hành lần đầu vào năm 1936 gồm 7 điều kiện thương mại (EXW, FCA, FOR/FOT, FAS, FOB, C&F, CIF).

Và cho Đến nay, Incoterms đã được sửa đổi bổ sung 7 lần vào các năm:
• 1953: Thêm điều kiện EX SHIP, EX QUAY
• 1967: Thêm DAF và DDP
• 1976: Thêm FOB airport
• 1980: Thêm CPT và CIP
• 1990: Có 13 điều kiện, bỏ FOR/FOT, FOB airport, thêm DDU
• 2000: Giống Incoterms 1990 về cấu trúc nhưng thay đổi một số chi tiết.
• 2010: Có một số thay đổi so với incoterms 2000

Sau đây, blog sẽ giới thiệu các điều khoản (CSGH – cơ sở giao hàng) trong Incoterms 2010 tới các bạn độc giả để hiểu, nắm vững kiến thức và vận dụng vào thực tiễn trong thương mại quốc tế ngày nay.

Incoterms 2010 có 11 CSGH như sau:


Hình 1: Nội dung mô phỏng các CSGH trong Incoterms 2010
EXW: Ex works (ngay tai cơ sở người bán) Tất cả các phương tiện vận tải


Hình 2: Cơ sơ giao hàng EXW (Incoterms 2010)

FCA: Free carrier (giao cho người vận tải – đầu tiên) Tất cả các phương tiện vận tải


Hình 3: Cơ sơ giao hàng FCA (Incoterms 2010)
FAS: Free alongside ship (giao dọc mạn tàu) Phương tiện vận tải thủy


Hình 4: Cơ sơ giao hàng FAS (Incoterms 2010)
FOB: Free on board (Giao xuống tàu) Phương tiện vận tải thủy


Hình 5: Cơ sơ giao hàng FOB (Incoterms 2010)
CFR: Cost and freight (Chi phí hàng hóa và cước phí tàu) Phương tiện vận tải thủy


Hình 6: Cơ sơ giao hàng CFR (Incoterms 2010)
CIF: Cost insurance freight (Chi phí hàng, phí bảo hiểm, cước phí) Phương tiện vận tải thủy


Hình 7: Cơ sơ giao hàng CIF (Incoterms 2010)
CPT: Carriage paid to (Hàng, cước phí trả tới…) Tất cả các phương tiện vận tải


Hình 8: Cơ sơ giao hàng CPT (Incoterms 2010)

CIP: Carriage insurance paid to (hàng, phí bảo hiểm, cước phí trả tới…) Tất cả các phương tiện vận tải


Hình 9: Cơ sơ giao hàng CIP (Incoterms 2010)
DAP: Delivery at place (giao hàng tại nới …) Tất cả các phương tiện vận tải


Hình 10: Cơ sơ giao hàng DAP (Incoterms 2010)
DAT: Delivery at Terminal (Giao hàng tại terminal bên nhập) Tất cả các phương tiện vận tải


Hình 11: Cơ sơ giao hàng DAT (Incoterms 2010)
DDP: Delivery duty paid to (Giao hàng và nộp thuế đến cơ sở của người mua) Tất cả các phương tiện vận tải


Hình 12: Cơ sơ giao hàng DDP (Incoterms 2010)

Trải qua các lần sửa đổi, dần dần Incoterms cũng đã giúp cho quan hệ thương mại quốc tế cải thiện rõ rệt (bằng chứng là ít tranh cãi về trách nhiệm cũng như rủi ro về hàng hóa xuất nhập khẩu hơn).

THẾ NÀO LÀ IMO, UN CỦA HÀNG HÓA NGUY HIỂM???







I. IMO là gì?, Phân loại IMO


1,Tổ chức Hàng hải Quốc tế (tên tiếng Anh viết tắt là IMO), trước đây gọi là Tổ chức Tham vấn Hàng hải liên Chính phủ (IMCO), được thành lập tại Geneva năm 1948, và bắt đầu có hiệu lực mười năm sau, cuộc họp lần đầu tiên vào năm 1959. Tên IMCO đã được thay đổi thành IMO năm 1982.


Trụ sở chính tại London, Vương quốc Anh, IMO là một cơ quan chuyên môn của Liên Hợp Quốc với 172 quốc gia thành viên và ba thành viên Liên kết. Mục đích chính của IMO là phát triển và duy trì một khuôn khổ pháp lý cho việc vận chuyển và giải quyết các vấn đề gồm: An toàn, môi trường, vấn đề pháp lý, kỹ thuật, hợp tác, an ninh hàng hải và hiệu quả của vận chuyển. IMO được quy định bởi một hội của các thành viên và là tài chính được quản lý bởi một Hội đồng thành viên được bầu từ các hội. Công việc của IMO được thực hiện thông qua các uỷ ban và các năm được hỗ trợ bởi các tiểu ban kỹ thuật. Tổ chức thành viên Liên Hiệp Quốc và gia đình tổ chức Liên Hợp Quốc có thể giám sát tố tụng của IMO. Tư cách quan sát được cấp cho các tổ chức phi chính phủ đủ điều kiện.


Tổ chức Hàng hải quốc tế có 2 loại thành viên:

- Thành viên đầy đủ : gồm các quốc gia là thành viên của Liên hợp quốc sau khi đã chấp nhận Công ước thành lập Tổ chức Hàng hải quốc tế.


- Thành viên liên kết: gồm các lãnh thổ hoặc các nhóm lãnh thổ do một nước hội viên Tổ chức Hàng hải quốc tế hoặc Liên hợp quốc chịu trách nhiệm về quan hệ quốc tế của lãnh thổ này.

Cho đến nay (2008), Tổ chức Hàng hải quốc tế có 167 quốc gia thành viên và 3 thành viên liên kết (Hồng Kông, Ma Cao, và quần đảo Faroe thuộc Đan Mạch).

2, Phân loại IMO

Tùy theo tính chất hoá, lý, hàng nguy hiểm được phân thành 9 loại và nhóm loại sau đây:


Danh mục hàng nguy hiểm được phân theo loại, nhóm loại kèm theo mã số Liên hợp quốc UN
Loại 1

Nhóm 1.1: Các chất nổ.

Nhóm 1.2: Các chất và vật liệu nổ công nghiệp.
Danh mục hàng nguy hiểm Loaị 1, nhóm 1.2. do Bộ Công nghiệp quy định.
Loại 2:

Nhóm 2.1: Khí ga dễ cháy.

Nhóm 2.2: Khí ga không dễ cháy, không độc hại.

Nhóm 2.3: Khí ga độc hại.
Loại 3: Các chất lỏng dễ cháy và các chất nổ lỏng khử nhậy.
Loại 4:

Nhóm 4.1: Các chất đặc dễ cháy, các chất tự phản ứng và các chất nổ đặc khử nhậy.

Nhóm 4.2: Các chất dễ tự bốc cháy.

Nhóm 4.3: Các chất khi gặp nước phát ra khí ga dễ cháy.
Loại 5:

Nhóm 5.1: Các chất ôxy hoá.

Nhóm 5.2: Các hợp chất ô xít hữu cơ.
Loại 6:

Nhóm 6.1: Các chất độc hại.

Nhóm 6.2: Các chất lây nhiễm.

Loại 7: Các chất phóng xạ.
Danh mục hàng nguy hiểm loại 7 do : Bộ Khoa học và Công nghệ quy định
Loại 8: Các chất ăn mòn.
Loại 9: Các chất và hàng nguy hiểm khác.

Bao bì, thùng chứa hàng nguy hiểm chưa được làm sạch bên trong và bên ngoài sau khi dỡ hết hàng nguy hiểm cũng được coi là hàng nguy hiểm tương ứng.

II. UN và Số UN là gì?



1, UN là gì?

- UN (United Nations) được hiểu là Liên Hiệp Quốc hay Liên Hợp Quốc (thường viết tắt là LHQ) là một tổ chức quốc tế có mục đích duy trì hòa bình và an ninh trên thế giới, phát triển các mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc và tiến hành hợp tác quốc tế giữa các nước trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình đẳng và quyền tự quyết của các dân tộc.


- Hiện nay, Liên Hiệp Quốc có 193 thành viên, bao gồm hầu hết các quốc gia có chủ quyền trên Trái Đất. Liên Hiệp Quốc sử dụng 6 ngôn ngữ chính thức: tiếng Ả Rập, tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Trung.


- Từ trụ sở trong lãnh phận quốc tế tại thành phố New York, Liên Hiệp Quốc và các cơ quan chuyên môn của nó quyết định các vấn đề về điều hành và luật lệ. Theo Hiến chương LHQ thì tổ chức này gồm 6 cơ quan chính, gồm: Đại Hội đồng, Hội đồng Bảo an, Hội đồng Kinh tế và Xã hội, Ban Thư ký, Tòa án Công lý Quốc tế, Hội đồng Quản thác. Ngoài ra, một số tổ chức tiến hành quản lý các cơ quan của Hệ thống Liên Hiệp Quốc, ví dụ như Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF).


2, Số UN là gì?


Số UN hoặc ID của Liên Hợp Quốc là những con số có bốn chữ số xác định các chất độc hại, các sản phẩm (như chất nổ, chất lỏng dễ cháy, chất độc hại,...) trong khuôn khổ của vận tải quốc tế. Một số chất độc hại có số UN riêng của chúng (ví dụ như acrylamide có UN2074), trong khi các nhóm hoá chất hoặc các sản phẩm có tính chất tương tự nhận được một số UN thông thường (ví dụ như chất lỏng dễ cháy, không có quy định khác, có UN1993). Một hóa chất ở trạng thái rắn của nó có thể nhận được một số UN khác với giai đoạn lỏng nếu đặc tính nguy hiểm của nó khác biệt đáng kể; chất với mức độ khác nhau của sự tinh khiết (hoặc nồng độ trong dung dịch) cũng có thể nhận được các số khác nhau của Liên Hợp Quốc.


Số UN có dải số từ UN0001 đến UN3506 và được định ra bởi Ủy ban Chuyên gia Liên Hợp Quốc về Vận chuyển Hàng hoá Nguy hiểm. Các số này được công bố là một phần của Khuyến cáo về Vận chuyển Hàng hoá Nguy hiểm, còn được gọi là Sách Cam. Những khuyến cáo này được thông qua bởi các tổ chức quản lý chịu trách nhiệm về các chế độ vận tải khác nhau.


Không có số UN phân bổ cho các chất không độc hại. Những chất không độc hại đơn giản là sẽ không có số UN.
























Thế nào là logistics?



Logistics là gì? Logistics là một phần của quản trị chuỗi cung ứng bao gồm việc hoạch định, thực hiện, kiểm soát việc vận chuyển và dự trữ hiệu quả hàng hóa, dịch vụ cũng như những thông tin liên quan từ nơi xuất phát đến nơi tiêu thụ để đáp ứng yêu cầu của khách hàng.
LOGISTICS LÀ GÌ?


Điều 233 Luật thương mại nói rằng:


"Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó các doanh nghiệp tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao nhưng chủ yếu vẫn là cung cấp các dịch vụ vận tải và làm thủ tục hải quan vì các doanh nghiệp khi thuê vận tải sẽ kèm theo làm thủ tục hải quan luôn"


Logistics là tên gọi của dịch vụ logistics trong khoảng thời gian đầu cụm từ này mới xuát hiện tại Việt Nam. Hiện nay, ngay tại VN, hầu hết những nhà chuyên môn đều đồng ý rằng dùng từ “hậu cần” để giải thích logistics vẫn chưa thực sự nhận thức được đầy đủ ý nghĩa về từ logistics hiện đại và do vậy giải pháp là hãy cứ để nguyên từ logistics trong ngôn ngữ nước ta, cũng như marketing, container…


Và, Thuật ngữ logistics cũng đã được sử dụng chính thức trong Luật thương mại 2005, và được phiên âm (một cách khá “ngộ nghĩnh”) theo tiếng Việt là “lô-gi-stíc”.
Vậy, chính xác Logistics là gì?





Hiện có nhiều định nghĩa học thuật về thuật ngữ logistics. Theo Hiệp hội các nhà chuyên nghiệp về quản trị chuỗi cung ứng (Council of Supply Chain Management Professionals – CSCMP), thì thuật ngữ này được định nghĩa khá đầy đủ như sau:


“Quản trị logistics là một phần của quản trị chuỗi cung ứng bao gồm việc hoạch định, thực hiện, kiểm soát việc vận chuyển và dự trữ hiệu quả hàng hóa, dịch vụ cũng như những thông tin liên quan từ nơi xuất phát đến nơi tiêu thụ để đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Hoạt động của quản trị logistics cơ bản bao gồm quản trị vận tải hàng hóa xuất và nhập, quản lý đội tàu, kho bãi, nguyên vật liệu, thực hiện đơn hàng, thiết kế mạng lưới logistics, quản trị tồn kho, hoạch định cung/cầu, quản trị nhà cung cấp dịch vụ thứ ba. Ở một số mức độ khác nhau, các chức năng của logistics cũng bao gồm việc tìm nguồn đầu vào, hoạch định sản xuất, đóng gói, dịch vụ khách hàng. Quản trị logistics là chức năng tổng hợp kết hợp và tối ưu hóa tất cả các hoạt động logistics cũng như phối hợp hoạt động logistics với các chức năng khác như marketing, kinh doanh, sản xuất, tài chính, công nghệ thông tin.”
Được tạo bởi Blogger.

Kiến thức logistics cho người mới bắt đầu

About

Sales Logistic: Nguyễn Thanh Tùng Mobile: 01652384417/ Email: nguyentunglg26@gmail.com

Tìm kiếm Blog này

Thế nào là logistics?

Logistics là gì? Logistics là một phần của quản trị chuỗi cung ứng bao gồm việc hoạch định, thực hiện, kiểm soát việc vận chuyển và dự trữ...